Bài hay

Showing posts with label Truyện kinh dị. Show all posts
Showing posts with label Truyện kinh dị. Show all posts

Monday, April 25, 2022

DẢI LỤA ĐỎ

 Mấy hôm nay ông Út không được vui. Trong lòng ông cứ mãi buồn bực về việc cái chuồng gà bị kẻ trộm vào nẫng mất bầy gà giò. Mà thật kỳ lạ, cái chuồng được đặt gần kề căn buồng của ông và cậu em trai bị bệnh nằm liệt giường. Ấy thế mà gà vẫn mất! Mất êm ru như không có việc gì xảy ra. Không một tiếng động. Không tiếng kêu la. Ngay cả con Lu thính nhạy thường ngày là thế, cũng không sủa tiếng nào...


***

Càng nghĩ ông Út càng thấy tức anh ách trong lòng. Có phải cái số ông làm nhà nhằm cung Lục súc hay sao, mà mấy năm nay không có gà ăn trong ba ngày Tết! Đã lâu lắm rồi, từ lúc hai cụ thân sinh mất đi, để lại đứa em sống dở chết dở, ông chưa bao giờ biết đến mùi vị của thịt... Lúc thì cáo vào ăn hết gà, chỉ chừa lại nắm lông đỏ máu, nằm rải rác trong chuồng. Một vài sợi lông lua tua máu, còn được con cáo tinh quái tha đến tận sàn giường của ông và đứa em. Lúc thì kẻ trộm lẻn vào nhà khi ông đi ruộng, bắt mất gà... Cái thằng em thật vô tích sự! Tối ngày nó chỉ trợn mắt, nhăn nhở cười với cái miệng méo xệch chứ nhất định không nói. Mà nếu nó biết nói, biết đâu lũ cáo lại sợ tiếng người mà không dám bén mảng đến gần. Đã thế nó cũng chẳng biết đi. Có khi nghe bước chân của người, nhà ông đã không mất trộm. Mà lại trộm giữa ban ngày cơ chứ!...

Mà thôi cũng không nên trách nó. Có trách hãy trách ông xanh, sao lại hẩm hiu cho ra đời một sinh vật không hoàn hảo. Còn nếu cho nó là động vật có tay chân cũng bằng thừa, khi không thể sử dụng tứ chi trong việc ăn uống hay sinh hoạt cá nhân. Những ông bác sĩ học trường tây, bạn cụ tổng năm nào có nói về bệnh tình của nó. Ông ấy nói gì... gì về chứng thoái hóa não hay bại xụi gì đó... mà ông Út chẳng biết. Cuộc đời ông sinh ra đã là tá điền. Ông bà cha mẹ cũng thế! Thì làm sao có chữ nghĩa để hiểu những việc phức tạp của người trên, kẻ trước...

dai-lua-do

Bình tâm nghĩ ngợi một lúc, ông Út vội vàng đi vào nhà cầm lấy cái mác[1], đi chẻ tre. Tre trong đất ông chủ Cả vốn nhiều, nhưng những người tá điền như ông chỉ xin được ruột đem về xài tạm. Vỏ tre người ta chẻ ra đan mê bồ, quây vòng đựng lúa. Có khi tre được đan giỏ, đan nia, vót câu... Người giàu có đất thì tha hồ sử dụng tre như một món hàng đa dụng. Nhưng... kẻ nghèo như ông, chỉ biết xin ruột tre đem về chẻ ra đan mê, làm vách. Vách nhà ông toàn bằng mê tre. Chỗ nào cứng cáp thì lót tạm một miếng. Nơi yêu yếu thì hai ba miếng cho kín gió, ấm nhà, chống mưa giông... Bàn tay khéo léo của ông Út nhẹ nhàng chẻ một thân tre ra thành miếng. Ông dùng mũi mác tách đầu của chúng thành từng mảnh nhỏ, thật mỏng. Sau đó uốn thân tre cho dập đi và bắt đầu tước thành nhiều mảnh nhỏ, đan vào tấm mê còn dang dở. Xong đâu đó ông Út đem tấm mê phủ lên một khung tre đã làm sẵn trước đó mấy hôm rồi. Dùng những nẹp nhỏ và dây, ông bắt đầu buộc chúng lại với nhau. Lúc mặt trời xế bóng, ông đã làm xong một cái cửa hình chữ nhật, với một chiếc đố dọc dài hơn cái bên khoảng hai tấc. Như vậy ông đã có một cánh cửa lắp vào nhà, mà không cần phải ra chợ mua bản lề cho phí tiền. Cái trụ dài cứ cho vào một lóng tre đóng sâu xuống đất. Đầu trên dùng dây lạt dừa cột lại, đã có ngay một cánh cửa cối xay có thể mở ra mở vào...

Hôm rồi, vì nhà không có cửa sau, nên con Lu lẻn vào ăn mất nửa cân thịt của ông. Cái số ông sao thật bẽ bàng và vô duyên với thịt. Ông anh làng bên biết ông bị mất trộm, lại mấy năm thất bát chăn nuôi nên biếu cho nửa cân thịt. Thế mà con chó chết tiệt, cả gan xực mất của ông nửa cân thịt quí. Nhưng nghĩ cũng lạ... Con Lu xưa nay vốn chưa bao giờ dám hỗn hào kiểu đó. Nó có thể săn chuột, bắt kỳ đà, chứ chưa từng đụng chạm vào những thức ăn để trên chạn bao giờ. Không biết con chó ăn phải gan con gì mà dám làm như thế?

Từ khi thằng Bé, em ông lớn lên một chút, căn nhà trơ trọi trong xẻo vắng càng vãn bóng người. Những đứa trẻ hàng xóm không thích đến nhà ông để rồi chứng kiến một con người đáng thương, nhưng lắm tật kinh khiếp. Mà bọn chúng sợ thằng Bé cũng đúng! Bởi sắc mặt trắng xanh của nó bao giờ cũng lồng vào một nét cười quái dị. Đôi mắt trắng dã mở trừng trừng nhìn mọi đứa trẻ với một sự thèm thuồng không lời giải thích. Ánh mắt ấy nhìn vào ai cũng không biết, khi tròng trắng quá nhiều để chứa đựng con ngươi bé tí cứ mãi chạy vòng quanh. Cái miệng nó trông qua cũng thật kỳ, khi thì méo mó hoặc trễ xuống với cái lưỡi dài ngoằng, đỏ hòm hom, mỗi khi ngoác miệng cười cùng ai đó. Những đứa nhỏ trong xóm nói với nhau rằng: "Cái lưỡi của thằng em ông Út dài quá! Nó dài đến nỗi không biết thật của con người hay không?" Dĩ nhiên những điều này được già trẻ lớn bé thì thào với nhau một cách thầm kín. Vì sợ ông Út nghe thấy rồi buồn phiền. Nhưng cái gì ở đời càng xầm xì thì càng dễ lọt tai. Ông Út vô tình nghe thấy thế cũng mặc. Bởi ông biết người ta sợ thằng Bé là đúng, khi ông thương nó nhiều...mà lắm lúc nhìn lại cũng kinh hoảng nữa là...

"Con người vốn có số!" Ông Út thường hay nói như vậy, khi phải cưu mang một đứa em tàn tật, tách biệt với người làng. Nó có cái số khổ, còn ông khổ phải đeo mang một giọt máu mà không nỡ vứt đi...

Thịt ăn không có. Thực phẩm chính trong nhà là cá ngoài đồng. Điều này đôi khi làm ông Út yên tâm hơn. Dù sao cá ngoài đồng cũng nhiều vô số. Chỉ vài mươi cần câu cắm vội thì đã có cái ăn. Nhưng thằng Bé ở nhà khó ăn lắm! Nó sinh ra trong nhà tá điền mà giống như sống với nhà giàu không bằng. Cơm ăn ba hột. Cá mắm sơ sài không làm cho nó hài lòng. Có hôm bận việc, vừa kho vội nồi cá ông đã bỏ đi sau khi múc ra tô mấy khúc cá cho thằng em. Khi xong việc trở về mới thấy là nồi cá chưa chín tới, mùi còn tanh lợm. Ấy thế mà thằng Bé đã ăn hết sạch tô cá để phần. Nhìn ánh mắt nó, ông Út kinh ngạc. Xem ra cu cậu thích ăn món bở ra trò. Thông thường ông kho cá rất ngon nhưng không thể làm đứa em vừa miệng. Nó ăn ít lắm mà vẫn lớn nhanh. Chỉ phải cái là không chịu đi đứng như người ta thôi. Nó càng lớn, người càng hôi ra với cái mùi gà vịt phảng phất đâu đó. Nhưng nó có mùi gà vịt trong khi nhà lại không có con gà, con vịt sống được bao lâu với cái họa cáo bầy và lũ trộm ngày. Hàng xóm cũng than vãn mất gà, mất vịt liên miên mà không hiểu được nguyên do. Điều này ông Út cũng thấy được. Bởi lúc trước, gà vịt hàng xóm cũng có qua đây, nhưng mỗi năm một vắng. Sau đó thì mất tiệt... Như vậy do lũ cáo quá lộng hành hay là bọn trộm, ngày một tinh ma, quỷ quyệt cũng không biết? Tai họa là họa tai chung! Nhưng những lời nói thì thầm lọt tai càng lúc càng khó nghe hơn. Người già, trẻ nhỏ nói rằng: khu vườn nhà ông có ma... Con ma này chuyên ăn thịt sống nên không có con gà, con vịt nào sống được trong khu vườn ấy...

Ông Út không bận tâm đến những lời nói vu vơ. Ngày ra đồng đến tối mịt mới về. Buổi sáng lại vội vã thổi cơm, rồi chia ra hai phần: Một đem theo bên mình. Một cho đứa em tật nguyền. Như vậy ông chỉ còn buổi tối tương đối thảnh thơi, khi bên chén trà, lúc vài chung rượu nhỏ. Sau đó lăn ra ngủ, chờ trời sáng...

Giấc ngủ nhà nông nặng nề là vậy mà lũ chuột trong nhà lại trở chứng, lộng hành nhiều ra. Lúc rày trong lơ thơ giấc ngủ, ông lại nghe bọn chúng lục lạo nồi niêu đến khó chịu. Sáng ra, những con cá lóc phơi vừa một nắng, đã biến mất không thấy tăm hơi. Chuột gì như quỷ như ma? Chúng chuyên ăn cá sống, còn khô phơi tới nắng thì không đụng đến bao giờ...

Lâu ngày mất của cũng xót. Nhiều đêm ông Út cố canh, tìm hiểu xem mặt mũi lũ chuột ra sao. Như hiểu được ý định của ông, bọn chúng trở nên im hơi lặng tiếng như chưa từng có mặt bao giờ. Ấy vậy mà khi quá mỏi mệt, vừa chợp mắt một chút chúng đã đại náo nồi niêu. Có hôm trăng sáng soi vào kẽ hở của vách phên bên đầu hè, làm căn phòng lờ mờ sáng. Lơ mơ giấc ngủ ông Út như thấy một dải lụa màu đỏ phất phới trong gian nhà trống. Cái dải lụa mờ mờ ảo ảo đó, thoắt ẩn thoắt hiện, và chợt biến mất lúc ông mở choàng mắt ra. Nhiều lần như vậy lắm, nhưng ông vẫn cho là mình mơ ngủ nên nhìn gà hóa cuốc đó thôi...

Một ngày, nhà bên có giỗ, ông Út được mời sang ăn chén cơm ngày kỵ. Hôm ấy ông uống hơi nhiều nên say túy lúy. Vừa về đến nhà ông liền ngã ra vạc giường ngủ ngay. Cái giường rộng một mét sáu, bao giờ cũng đủ chỗ cho cả hai anh em. Giữa khuya ông Út chợt tỉnh khi thấy một bên má nhồn nhột. Có cái gì đó mềm mại như lụa ướt, cứ vuốt ve lên khuôn mặt ông. Trong cơn say ngà ngật, ông Út cứ tưởng con Lu dở chứng nhảy lên giường liếm mặt mình. Nhưng mở mắt ra nhìn kỷ, ông lại nhận thấy chính cái dải lụa đỏ thường ám ảnh mình từng đêm đang múa may, uốn lượn. Cái dải lụa đỏ bằng ba ngón tay cứ phất phơ, phơ phất... như chơi đùa, bởn cợt với gương mặt người say... Ông Út muốn đưa tay túm lấy dải lụa, nhưng bàn tay không sao theo ý được. Tay người say có bao giờ tuân theo ý chủ, lại trong lúc vừa tỉnh cơn ngái ngủ. Tiếng động làm cái dải lụa chợt biến mất như được ai kéo vào một nơi tối, gần lắm... Hình như nó ở ngay cạnh nơi ông nằm... Nơi thằng Bé đang im lặng nhìn ông... Ông Út nhìn nó như không hiểu. Cái thằng, sao giờ này vẫn không ngủ, cứ mở mắt nhìn trừng trừng nhìn ông thế kia! Mà sao mắt nó xanh lè như thế... Không! Không phải màu xanh. Trong đó còn có ánh lửa chập chờn của hai viên bi đỏ rực...

Nhìn nó ông Út chợt hoảng kinh hét lớn:

- Mày làm gì đó hở Bé!?...

Trong đêm khuya, tiếng quát của ông chắc vang dội lắm. Nó làm cho thằng Bé giật nảy mình với sự biến đổi đột ngột của gương mặt. Ánh mắt nó không còn lấp lánh thứ ánh sáng kỳ dị ban đầu. Cái môi nó lại trễ xuống như sự cố hữu lâu nay. Nhưng cái khác lạ là sắc mặt nó ra chiều tiếc rẻ, như vừa vuột mất một thú vui của trẻ nhỏ...

"Không ổn rồi! Thằng em này có cái gì khác lắm. Tựa như nó đến từ một nơi u tối mà con người không sao biết được"... Ông Út nghĩ vậy nên thao thức mãi đến lúc gà gáy sáng...

... Hôm nay, sau buổi nhổ mạ, ông Út đi thẳng sang nhà người anh ở xóm bên. Hai anh em là bà con chú bác nên thân nhau từ bé, không phải giấu nhau chuyện gì...

- Anh Tám à! Sao tui lo quá. Thằng Bé ở nhà ngày một biến đổi không biết ra... gì nữa. Không biết sau này tui kham nổi không...

Ông buồn rầu nói với anh mình.

Ông già Tám nhìn người em ra chiều thương cảm, xen nổi lo âu. Ông đã nghe nhiều việc về đứa cháu hơn người em, nhưng không biết bắt đầu câu chuyện như thế nào cho xuôi chèo mát mái.

- Tôi biết chú khổ vì nó... Nhưng biết làm sao hơn được! Dù sao, nó cũng là máu mủ ruột thịt của mình...

Nói đến đây ông ngập ngừng, rồi lặng thinh.

Ông Út đem những chuyện khác lạ xảy ra lâu nay nói với người anh. Ông Tám ngồi lắng nghe một lúc rồi khuyên người em một câu:

- Chú muốn làm gì cũng phải biết cặn kẽ nguồn cơn. Tôi nghe nhiều việc kinh sợ quanh thằng bé, nhưng vẫn bán tín bán nghi. Lắm lúc tôi định nói, lại sợ chú buồn... Chỉ có hai anh em, chú cứ mãi ngoài đồng thì đâu biết được việc nhà... Muốn biết sinh hoạt của thằng Bé thì phải lén lút rình mới hiểu được.

Sau câu nói đó, ông già đi vội vào nhà lấy ra một con gà đã bị buộc chân, đưa cho ông Út.

- Mặt chú xanh xao quá! Đem còn gà này về nấu cháo đậu xanh mà ăn. Tôi chỉ có thể giúp chú thế này thôi...

Ông Út về mới được nửa đường thì trời đổ mưa. Mưa lớn lắm! Sấm chớp chằng chịt khắp chân trời. Đoạn đường trở nên trơn trợt trong ánh sáng lóa mắt của tia lửa trời. Đến nhà, ông Út vội vã bỏ con gà vào chuồng, rồi băng ngay ra đồng. "Không khéo mạ trôi hết mất!" Ông nghĩ vậy nên chạy mỗi lúc một nhanh. Còn cách chân đồng khoảng mươi bước chân ông Út chợt dừng lại. Không phải ông đuối sức, chỉ là không muốn bước tiếp khi nhớ đến câu nói của người anh. " Phải rình xem thôi. Coi thằng Bé làm gì mỗi khi ông ra đồng"...

...Cánh cửa nhà sau lờ mờ hiện ra trong cơn mưa và ánh chớp. Con Lu không chạy ra mừng như mọi khi. Không biết nó chạy theo con chó hàng xóm nào rồi nữa! Cánh cửa ông làm để ngăn cản bầy cáo tới chuồng gà chỉ cách mươi bước chân thì ông Út nghe thấy tiếng gà la oang oác."Lại là lũ cáo khốn kiếp". Ông Út cầm lấy cây, đẩy cửa xông vào. Cánh cửa với cối bản lề xoay đi trong tiếng kêu cót két thì trước mắt ông hiện ra ra cái dải lụa quỷ quái của đêm nào. Có khác hơn là nó dài lắm và đỏ ửng màu máu trong ánh chớp lòe sáng. Vừa nghe tiếng động, cái dải lụa vụt về phía nhà trước rất nhanh. Chỉ thoáng một cái đã mất tăm, mất tích. Ông Út nhìn vào chuồng gà chỉ thấy một nhúm lông đỏ máu nằm đó. Bước nhanh đến bên giường, ông nhìn thấy gương mặt thằng Bé như đang ngủ, nhưng điều lạ là khóe miệng nó có dính chút ít máu...

"Không phải cáo ăn mất gà!" Gà chết vì cái dải lụa đỏ ấy thôi. Nhưng cái dải lụa ấy là gì? Sao miệng thằng Bé lại vấy máu trong giấc ngủ!?...

Sau cái đêm ấy, ông Út bắt đầu để ý nhiều việc kỳ lạ xảy ra trong nhà. Những nông dân đồng nội đi nhổ mạ, cấy lúa, bị đỉa cắn chảy máu là bình thường. Những người khác bị đỉa cắn một ngày đã khô mặt, qua ngày thứ hai kể như hết hẳn. Thế nhưng vết đỉa nơi chân ông Út không khỏi, lại lầy nhầy những nước vàng và bưng mủ. Đôi khi nó kéo dài cả tuần hay một tháng mà vẫn không lành. Cuối cùng hết cách đành phải bó thuốc mới xong. "Có khi nào do cái dải lụa ấy mà ra...!" Ông Út vội xua ngay ý nghĩ trong đầu vì cho rằng thật kỳ quái... Nhưng... cuối cùng nó là cái gì mới được cơ chứ? Thế là ông nung nấu một kế hoạch làm cho minh bạch mọi việc...

...Tháng giêng đồng khô cỏ cháy. Mùa này đã đong lúa ruộng xong, nên mọi người thi nhau ra đồng săn chuột, bắt chim. Ông Út bắt được nhiều chim, đem về nướng lên thơm phưng phức. Thế mà thằng Bé nó không ăn. Dạo này nó gầy đi trông thấy. Nhìn nó ông thấy xót xa, bởi biết câu máu chảy ruột mềm...

Buổi chiều, nhà bên có người giết lợn, đem biếu ông cân thịt. Ông vứt miếng thịt lên cái xịa[2] treo nơi giàn bếp, rồi tất tả đi cắm giạc câu[3] cho kịp buổi tối. Đi được ba bốn liếp vườn, ông chợt nhớ đến cái dải lụa màu đỏ nên quay trở lại...

Cánh cửa với cái bản lề cối xay, luôn kêu cót két, nên ông Út đã cho chút bùn non vào. Nhờ điều này nên lúc đẩy cửa không gây ra tiếng động nào. Trong cảnh tranh tối tranh sáng, ông Út trông thấy cái dải lụa đang múa lượn trong căn bếp. Trông nó như một vật đang mãi vui chơi đắc ý, nên không biết sự xuất hiện của người lạ...

Thận trọng... Khẽ khàng... Từng bước... Từng bước... Ông Út tiến đến gần chiếc dải lụa... Trời đêm tháng giêng sao sáng vằng vặc. Ánh sáng hội tụ của các vì sao xuyên qua mái nhà thủng lỗ chỗ, soi vào căn bếp lặng ngắt như tờ... Đôi mắt ông Út mở to hết cở để nhìn vào vật kỳ lạ ấy. Thứ mà bao đêm ám ảnh ông trong giấc ngủ. Nguyên nhân gây ra cái chết của gà và vịt. Còn nữa, đã năm năm ông không nếm được thịt, cũng bởi vì nó!... Căm tức... Uất hận... Cuồng nộ... Tất cả đều tại chiếc dải lụa quái ác kia...

Bỗng nhiên ông sửng người lại... Người ông lạnh ngắt như vừa ngâm mình rất lâu trong nước. Cái dải lụa trông như một cái lưỡi, với những tua vị giác nhỏ li ti nhô lên từ thân, Những sợi nhỏ này run rẩy, uốn lượn, cào cấu vào miếng thịt để trên giàn bếp. Sau đó nó mất hút về phía nhà trước, rồi lại xuất hiện ngay sau đó... Động tác được lặp đi lặp lại với những tiếng "chem chép" đều đặn của một đứa trẻ đang ngon ăn... Đầu ông Út quay cuồng với bao ý nghĩ: "Lưỡi người ư? Không thể nào! Lưỡi người không thể dài như thế? Nếu chỉ đứng trong khuôn bếp để ước lượng thì vật đó có trên ba mét, chưa kể nơi phát xuất..." Nhưng nó rõ ràng là cái lưỡi chứ không phải dải lụa... Cái lưỡi ấy đang liếm láp khối thịt còn đỏ ối đang nằm kia. Và mỗi lần như vậy khối thịt lại vơi đi trước mắt ông...

Ông Út chợt nhớ tới lời đồn đại và đâm hoảng hốt. Lưỡi ông cứng lại trong khi "cái dải lụa đỏ" đang tưng bừng múa lượn trước khối thịt. Bàn tay run rẩy của ông Út lần mò trong bóng tối, lần tìm một vật gì đó. Bất cứ thứ gì vào tay lúc này cũng tăng thêm sự can đảm cho một con người đang bị sự sợ hãi nuốt chửng. Trong bếp trống không. Không có bất cứ cái gì trong tầm tay mà ông có thể với tới. Bàn tay run bần bật bỗng chạm vào một nơi âm ấm. Đó là cái mẽ lửa nướng chim buổi xế chiều. Cái ấm của tro than không làm ông Út bớt run, ngược lại còn tăng thêm nỗi tuyệt vọng. Bỏ chạy cũng không! Vì trong nhà còn thằng Bé... Thế rồi ông lao vào ghì chặt cái dải lụa gớm ghiếc. Cái lưỡi của quỷ dữ đã sống nhờ vào số thịt trong nhà ông...

Cái lưỡi ác quỷ vùng vẫy hung hãn với sức mạnh kinh kiếp. Thân nó trơn tuột và đầy rẫy nhớt nên càng khó nắm được. Ông Út bị xô ngã vào cái mẽ lửa đầy tro nóng. Bất kể như thế nào ông nhất quyết không buông. Một ý nghĩ vụt hiện ra vào lúc nguy kịch, ông hốt vội nắm tro rồi xiết mỗi lúc mỗi chặt cái dải lụa đang trong cơn điên cuồng. Trong buồng có tiếng ú ớ của thằng Bé, xen lẫn tiếng tru ghê rợn của con Lu. Tiếng tru của con chó như đứt đoạn, run rẩy và sợ hãi. Ông Út mặc kệ tất cả. Bởi vì giờ đây ông đang tóm được cái lưỡi bằng đôi tay đầy tro than. Nhưng... nó khỏe lắm... Nó xô nam, xô bắc, rồi kéo tuột ông vào buồng ngủ. Thằng Bé càng ú ớ, khục khặc, tay chân múa lung tung trên giường. Ánh sáng của ngàn sao chiếu qua tấm mê mục nát bên hiên nhà, soi lên gương mặt thằng Bé. Ông Út vừa thấy nó đã kinh khiếp hét lên. Trời ơi! Nó không còn là đứa em. Nó là quỷ dữ với chiếc lưỡi dài ngoằng gớm ghiết, đang cố quấn chặt lấy anh mình. Cái lưỡi lúc đầu đang cố rụt lại, bây giờ lại vươn ra phía trước, quấn mấy vòng quanh cổ ông Út. Đầu lưỡi chứa đầy nhớt dãi, ram rám, sờ soạn lên khuôn mặt của ông. Kinh hoảng vì những điều xảy ra, ông Út vớ lấy cái phảng[4] nơi đầu giường, rồi vung lên...

***

Tiếng mõ và thanh la vang lên inh ỏi trong đêm vắng. Người làng ven con xẻo, cạnh nhà ông Út nháo nhào la hét, gọi chữa cháy. Ngọn lửa hung tợn trong mùa khô bốc cao bừng bừng, soi sáng cả một vùng quê yên tĩnh. Khi người ta chạy tới, căn nhà ông Út đã cháy rụi trong chốc lát. Những người trẻ tuổi dùng tàu dừa dập lửa để tìm người xấu số, nhưng không thấy gì ngoài cái phảng và mấy mảnh vỡ của bát sành. Người ta bàn tán xôn xao, không biết người trong nhà có chạy thoát hay đã bị thiêu trụi ra tro...

Mãi về sau, cũng không ai hiểu chuyện gì đã xảy ra cho hai anh em xấu số. Trong số những nghi vấn chỉ có một người bao giờ cũng lặng yên. Đó chính là ông Tám già ở làng bên. Ông ta nín lặng chứ không phải không biết gì. Và càng không nên trách phiền về sự kiệm lời của một ông già gần đất xa trời... Bởi vì, nếu một ngày nào đó ông không nói ra sự thật, thì... làm sao có câu chuyện hãi hùng này...

(Câu chuyện tưởng nhớ đến hương hồn của Nội tôi – Người đã kể lại một phần sự việc)

Bình Tân - 14.6.2011

MacDung

CÁI XÍCH ĐU KỲ QUÁI

 Ầu ơ... Gió đưa bụi chuối... ờ... ơ... sau hè...

Anh theo vợ bé... ờ... ơ... Ầu ơ... Anh theo vợ bé bỏ bè con ơ... ớ... thơ... ơ...ơ...!

Điệu hát ru cứ xoáy vào tâm trí tôi vào mỗi đêm trăng sáng. Nó làm tôi day dứt không yên trong những đêm khó ngủ. Xung quanh phòng tôi có rất nhiều cây, cứ vào mùa đông, rơi vào những đêm rằm thì sương dăng dăng. Đứng trong cửa sổ nhìn ra ngoài chỉ thấy mờ mờ ảo ảo, như khói tủa mùa đốt đồng... Chính những lúc như thế, tiếng hát ru lại dập dìu, phảng phất đâu đây. Lời ru ai oán, thê lương làm rệu rã cả lòng người...


***

Tính ra tôi ở đây đã được năm năm. Một thời gian đủ dài để hiểu từng tấc đất, ngọn cỏ, quanh ngôi nhà cổ. Nhà bà Tám có đến năm bậc chứ không phải là tam cấp, cất ba gian theo kiểu cổ xưa. Tôi nhớ khi còn ở thị xã với gia đình, những căn nhà kiểu này thường gọi là "nhà xưa"... Bởi trông nó xưa cũ và buồn ảm đạm...

cai-xich-du-ky-quai

Duyên số đẩy đưa tôi đến với căn nhà, bắt đầu từ lúc tốt nghiệp sư phạm. Ra trường, tôi nhận công tác tại vùng xa... Thế là biết nơi đây!... Còn một lý do khiến một cô giáo trẻ như tôi gắn bó với "nhà xưa", là... dạy kèm thằng cháu nhỏ của bà chủ nhà. Thằng Tân vừa vào lớp bốn, tính hiếu động và thích chạy vòng quanh cái sân rộng lớn như sân bóng. Cây cối ở quê rất phong phú, nào: xoài, mít, đu đủ, mía... đều có cả. Vì vậy lúc vào hè, thời tiết oi ả, mới thấy giá trị đích thực của sự mát mẻ ở vùng đồng quê thanh vắng... Tất cả những việc này chung qui rất ưng ý, bởi tôi là mẫu người thích không gian và sự tĩnh lặng...

Lâu ngày nhẵn mặt là thế, mà tôi cố công tìm mãi vẫn không biết tiếng hát ru xuất phát từ đâu. Cứ mỗi dịp sáng trăng, nó lại cất lên ai oán. Có lúc tôi tưởng ở ngay cạnh nhà, lúc lại thấy nó dập dìu như xa xa vẳng đến. Quanh đây cũng có nhà ở, nhưng cách rất xa. Từ khoảng cách như thế mà tính, không thể nào lời ru bay đến đây được. Vả lại tôi đã tìm hiểu và biết những mái lá ấy không hề có trẻ nhỏ thì ru hát để làm gì...

Người già thường hay cưng cháu. Vì lẽ đó tôi được ở trong "nhà xưa" miễn phí, với một trách nhiệm phù hợp với bản thân là: "Dạy cho thằng Tân học hành mau tiến"... Ngoài giờ lên lớp và dạy thằng Tân, thời gian còn lại của tôi là ngồi bên chiếc bàn đặt cạnh khung cửa sổ. Soạn giáo án, viết thư nhà đều là đây. Và... nghe tiếng ru hời cũng từ đây...

Bà Tám đã ngoài bảy mươi. Con cháu đi làm xa, chỉ mỗi hai bà cháu và cô Hai phụ việc ăn uống, sống trong căn nhà rộng thênh thênh. Vì vậy khi tôi về đây cả nhà vui hẳn ra, ngay cả cô Hai thỉnh thoảng cũng cười khi thấy tôi đi dạy về - một điều hiếm thấy đối với thằng Tân hay quấy phá...

Tranh thủ những lúc rỗi việc, tôi hay bắt chuyện với cô Hai. Biết đâu khi giao lưu với người đàn bà lớn tuổi này, tôi lại thỏa mãn tính tò mò của mình về những lời ru ma quái...

Thế nhưng mọi việc lại làm tôi thất vọng, cô Hai bao giờ cũng lắc đầu khi tôi đề cập đến lời ru. Sắc mặt người đàn bà trở nên tái đi khi nghe tôi nói đến điệu ru văng vẳng vào đêm trăng sáng. Về phần bà Tám thì cương quyết hơn. Bao giờ bà cũng gạt phăng những nghi vấn của tôi với một câu gọn lỏn: "Cô giáo mải việc nên mệt mỏi nghe lầm đó thôi. Tôi sống hơn bảy mươi năm trong căn nhà này, đâu có nghe ai hát hò gì bao giờ..."

Câu nói của bà Tám làm tôi bán tín bán nghi, nghĩ trong nhà có việc nên giấu không cho ai biết, nửa còn lại cho rằng mình lo nghĩ vẩn vơ sinh ra mộng tưởng. Nhưng... tôi là người được xếp vào loại có cá tính mạnh mẽ, gặp khó khăn ít chịu lùi bước, sao lại tự gây ảo giác về lời ru. Từ ngày đó tôi mãi băn khoăn với những nghi vấn trong lòng nhưng không có lời giải đáp. Sau cùng quá mỏi mệt, tôi gạt chúng qua một bên rồi quên bẵng...

Học kỳ cuối của năm, tôi tất bật với việc ôn luyện cho học sinh nên sức khỏe sút hẳn. Có hôm về thăm nhà, ai nấy đều quở: "Lúc này sao con nhỏ ốm ra". Nhưng tôi không còn thời gian lo cho bản thân, vì "đàn em thân yêu" cứ đeo bám cô giáo suốt buổi...

Ngày tết Đoan Ngọ, phụ huynh học sinh thi nhau mời cô giáo đến nhà dùng bữa. Rồi hội hè nối tiếp nhau đến ngày rằm lúc nào cũng không hay. Tôi có thói quen hay đi lễ chùa vào những ngày rằm. Hôm đó, sau khi vào chùa Hang thắp nhang, về đến nhà tôi liền lăn quay ra ngủ lúc nào không hay. Nửa đêm, tai tôi chợt nghe thấy tiếng ru quen thuộc nổi lên văng vẳng... Lần này cũng một giai điệu, nhưng lời ru đã biến đổi:

"Gió đưa cây cải về trời...

Rau răm ở lại chịu đời đắng cay..."

"Má ơi đừng gả con xa...

Chim kêu vượn hú biết nhà má đâu..."

Đêm khuya thanh vắng, lời ru vang lên rất rõ không thể nhầm lẫn được. Có điều tiếng ru bị gió đu đưa, lúc xa lúc gần, nghe có lúc như mất hẳn, lúc lại nổi lên mồn một sát bên tai...

Tôi lắng nghe xung quanh. Cả nhà đều đã ngủ. Hôm nay tôi nhất định phải khám phá cho được cái bí mật chất chứa lâu nay. Đẩy khẽ cánh cửa phòng, tôi bước lên nhà trên không một tiếng động. Nhấc thanh cài và hé nhẹ cái cánh cửa cũ kĩ, tôi lách người bước ra bãi cỏ trước sân nhà. Ánh trăng lung linh soi tỏ mấy cây hoàng hậu và hàng râm bụt được cắt tỉa gọn ghẽ. Từ chỗ này tôi có thể quan sát phía bên kia sân vườn, nhưng lại không nhìn được cái cửa sổ phòng mình. Bởi nó đã bị ngăn cách bởi một hàng chuối xanh um, lá đung đưa trong ánh trăng vằng vặc. Tôi bước khoảng mươi bước về phía trái của sân vườn nhưng chợt đổi ý định. "Bên đó nhìn đã thấy, không nên phí sức". Vừa quay người tôi chợt phát hiện cánh cửa sổ phòng bà Tám vừa có ai dùng tay khép lại. "Ồ! Như vậy đâu phải chỉ có riêng tôi nghe thấy tiếng hát ru. Bà Tám cũng nghe, nhưng không muốn nhận đó thôi..."

Ánh mắt tôi chợt dừng lại nhìn vào cái xích đu nằm dưới cửa sổ phòng bà Tám và phòng tôi. Cái xích đu đang động đậy như có ai dùng tay đẩy. Không! Không phải đẩy, mà như có ai đang ngồi trên đó chơi đùa thì phải...

Tôi không muốn tin vào mắt mình, nhưng không thể phủ nhận sự chuyển động của cái xích đu. Phía trên chiếc xích đu có một vùng sương mờ ảo như bóng người đang ngồi, đầu hơi cúi xuống vỗ về một đứa trẻ vậy. Tôi hơi chùn bước khi phát hiện điều này. Người cảm thấy gai gai trong nỗi sợ thoáng qua. Rồi khi nhớ đến lời nói của bà Tám hôm nào, tôi quyết tâm trong lòng: "Nếu không làm rõ sự thật thì chính tôi mới là người đang hoang tưởng". Khi cách chiếc xích đu khoảng ba bước chân tôi chợt dừng lại. Nhìn chiếc xích đu bất động tôi thấy hoang mang. Không lẽ tôi đang tự kỷ ám thị về cái xích đu? Có khi nào vừa tỉnh cơn ngái ngủ khiến tôi nhìn gà hóa cuốc! Chiếc xích đu nằm bất động, vùng sương trắng cũng không còn. Vậy lúc nãy tôi vừa thấy cái gì cơ chứ? Trong đầu tôi thoáng hiện ra ý nghĩ ma quái và bắt đầu sợ hãi... Nhưng lúc này sợ có ích gì? Bởi tôi đang đứng quá gần chiếc xích đu với ý nghĩ mới chui ra trong nỗi sợ sệt: "Đã sợ thì đừng đến. Đã đến rồi chạy cũng không kịp". Và sự bình tĩnh vốn có ở tôi lại xuất hiện với dáng vẻ hùng dũng tạm bợ. Tay hơi run, tôi vịn vào hai sợi dây và bắt đầu ngồi lên cái xích đu... Trọng lượng cơ thể khiến chiếc xích đu chao đi rồi theo quán tính bắt đầu dao động...

Tôi nghĩ chiếc xích đu này họa hoằn chỉ có mỗi thằng Tân là hay ngồi. Bởi nơi đặt nó khuất sáng, xung quanh chỉ toàn cây lá nên ít ai lai vãng. Thế nhưng sự chuyển động của cái xích đu làm tôi kinh ngạc. Thay vì phải kêu cót két bởi lâu ngày ít ai sử dụng, nhưng ngược lại nó quay rất êm và không gây bất cứ tiếng động nào. Cơn sợ hãi lúc đầu vừa lắng xuống bỗng chợt bùng lên khi tôi có cảm giác ai đó vừa lắc đẩy chiếc xích đu. Lúc đầu cái lắc hơi nhè nhẹ, sau trở thành những cái dặt ngang mạnh mẽ như muốn hất tôi xuống đất. Hoảng sợ tôi định đứng lên thì trớn của nó đã đẩy tôi ngã lăn trên nền cỏ ẩm ướt. Cổ chân tôi đau điếng, khiến một chân phải bước lò cò đi tìm chiếc dép. Tôi đứng ngây người nhìn chiếc xích đu đầy vẻ sợ sệt xen lẫn ngạc nhiên. Trong đầu tôi hiện lên ý nghĩ về lời ru của một ai đó bên chiếc xích đu, trước lúc tôi mò đến phá bĩnh và... phải trả giá về sự tò mò của bản thân. Oan hồn ru con ư? Rõ ràng lời ru và chiếc xích đu có quan hệ với nhau, mặc dù lần đầu tiên tôi thấy nó chuyển động mà không có ai ngồi. Tiếng ru nhất định xuất phát từ đây! Và có nghĩa là, chiếc xích đu đã từng chuyển động mỗi khi lời ru cất lên. Điều đó chứng minh về những vòng quay êm ái khiến ai cũng phải ngạc nhiên khi ngồi lên nó, nhưng... không lâu...

Sáng hôm sau nhìn bước chân của tôi, cô Hai kinh ngạc hỏi:

- Chân cô giáo bị làm sao vậy?

Tôi nhìn cô Hai cười sượng sùng:

- Tôi ngồi xích đu, bất ý nên bị té trẹo chân ấy mà...

Không đợi tôi nói hết câu, cô Hai đã thảng thốt:

- Cô ngồi lên chiếc xích đu ư? Sao lại như thế... Ở nhà này ngoài thằng Tân ra, không ai...không ai...

- Không ai như thế nào hở cô Hai?

Lời cô Hai mang tính lảng tránh:

- Cô giáo không nên ra đấy làm gì... Cứ biết thế là đủ rồi!

Cuộc nói chuyện như vậy là kết thúc, để lại sự ấm ức trong tôi...

Cái chân trở nên đau đớn đến nỗi tôi phải bó ngải cứu hết mấy hôm. Sau đó tôi ra chợ và mua về một cái lục lạc của trẻ nhỏ hay chơi. Cả nhà không ai biết gì, bởi tôi biết có nói ra cũng không ai đồng tình với sự ương bướng của mình. Trời vừa chạng vạng, tôi đem cái lục lạc treo dưới chiếc xích đu với lời tự thưởng về sự thông minh của bản thân. Bây giờ không cần phải làm gì, ngoài việc cắt bớt mấy tàu lá chuối che quanh khung cửa sổ. Sau đó là chờ đợi...

Ngồi trong phòng với tâm trạng thấp thỏm rất là bực bội, tôi với tay lấy mấy quyển sách trên kệ ra xem. Kệ sách này là "tài sản" của "nhà xưa". Nó lam nham bụi đóng bởi ít ai đụng đến, mặc dù có đôi lần tôi dùng chổi quét qua quít. Lần theo từng gáy sách, tôi chợt chú ý đến một quyển sổ nho nhỏ, bìa đã ngả màu, nằm chen lẫn trong mớ sách hỗn độn. Lấy nó ra trước ánh đèn tôi lật qua loa vài trang và phát hiện đây là một quyển nhật ký có thâm niên đáng nể. Mấy trang đầu viết nhăng nhít những sự kiện đáng nhớ, nhưng năm tháng rất xa. Sau đó như tức giận điều gì nên chủ nhân của nó xé đi, cũng may trên giấy còn lưu một số chữ đủ để phán đoán đây là một quyển nhật ký. Dòng chữ theo thời gian đã mờ nhạt, tôi phải đưa lại gần ánh đèn mới đọc được lõm bõm mấy chữ: "Nhỏ bạn sinh con mà mình cứ nôn nao... Anh ấy đi, ở nhà vắng ngắt... Con thú nhồi bông xinh ơi là xinh... Mình thích hát ru lắm... Ầu ơ cho ai... Nước mắt chảy ướt cả gối... Chắc anh ấy chán mình rồi... 14.8.1981... Hôm nay Vu Lan trăng đẹp lạ thường..."

Sau nữa là những trang còn lành lặn, viết đầy những câu ca dao rất lý thú:

"Má ơi con má chính chuyên

Ghe bầu đi nối một thiên cá mòi

Không tin mở hộp ra coi

Rau răm ở dưới cá mòi ở trên..."

"Chiều chiều hái mướp nấu canh

Chạy ra xách chảo gặp anh trèo giàn

Thôi thôi thiếp chẳng thương chàng

Đôi bông thiếp trả đôi vàng thiếp xin..."

"Má ơi con vịt chết chìm

Thò tay xuống vớt, cá lìm kìm nó cắn tay..."

Kế bên những trang giấy đó, là một khoảng bỏ trống bị xé toạc, với dòng chữ thấp thoáng bên góc trái mà ý nghĩa có trời mới hiểu được. Tôi kiên nhẫn lật những trang tiếp theo và cuối cùng cũng thỏa nguyện. Có hai ba trang trong quyển nhật ký bị nhảy cóc do cảm hứng của "tác giả" nên may mắn còn nguyên vẹn. Thời gian ghi trên quyển nhật ký cách nhau cả tháng, khiến tôi phải suy nghĩ và diễn giải nhiều:

"Ngày 8.9.1981. Hôm nay tính theo âm lịch là ngày 11 tháng 8, tiết bạch lộ, có sương. Tôi ngồi bên chiếc xích đu với những con búp bê nhồi bông rất dễ thương. Không biết mình chơi với những con thú bao lâu rồi? Chỉ biết đã thành thói quen mỗi khi anh ấy đi vắng. Tôi hiểu, khi người đàn bà không thể sinh con là một điều đau đớn nhất trong đời. Chồng dù thương, lâu ngày vẫn lạnh nhạt. Họ nhà chồng nhìn mình với ánh mắt thật khó tả. Có thể họ cho rằng, không sinh con là chuyện do mình gây ra, nên ánh mắt mọi người thật ghẻ lạnh. Sự khác biệt này chỉ có người trong cuộc mới hiểu, khi nhìn những đổi thay từng ngày trong mắt của người thân...

Nói ra ai cũng gật đầu cảm thông, nhưng thật giả tạo khi hiểu rằng, với cánh đàn ông việc có vợ mà không sinh con đã là bỏ đi. Ở nơi này người ta ủng hộ: "Không sinh con đâu phải tội của riêng mày", nhưng nơi khác lại cho rằng: "Bất hiếu hữu tam, vô hậu vi đại..." Chén trà tiệc rượu, lâu ngày ai mà chẳng dao động... Nỗi buồn đó đeo bám theo tôi với ước muốn mãnh liệt từ trong sâu kín: có một đứa trẻ để ru hời...

Càng lâu không có con, tôi càng yêu thích điệu hát ru. Những câu ca dao ngày thơ nhỏ, cảm nhận qua lời ru của mẹ, nay lại sống dậy với niềm tin cháy bỏng: Được hát ru cho đứa con riêng mình...

Nhưng đâu phải ở đời niềm ao ước nào cũng được thỏa nguyện! Nếu như vậy không phải mọi người đều hóa thành tiên hay sao? Tôi thích một đứa con, nhưng đó vẫn là chuyện của riêng mình chứ không thể bắt mọi người ban phát cho được. Và khi con người không quán xuyến được chuyện cá nhân thì đừng trách ông xanh sao vô tình chẳng đoái hoài đến...

...Ngày buồn quạnh quẽ cứ trôi. Với những con thú bông chơi đùa thay cho niềm mơ ước. Anh ấy ngày một xa vắng hơn... Tôi biết, nếu không có được một đứa con thì sớm muộn sẽ mất anh. Mất anh bởi chính cái điều mà cả hai đều ao ước. Và cháy bỏng nhất vẫn là người cùng một lúc phải đối diện với hai khó khăn: giữ được chồng và thiên chức của người đàn bà...

Nếu một ngày nào đó tôi vẫn đơn độc bên cái xích đu, thì cũng không trách được khi anh đi khỏi một gia đình mãi mãi chỉ có "hai người"... Buồn sao là buồn...!

"21.1.1984. Tiết đại hàn rơi vào ngày 19 tháng 12 âm lịch, năm Quý Hợi. Chỉ còn mười hai ngày là Nguyên Đán. Thời tiết lạnh quá mà tôi vẫn ngồi bên chiếc xích đu với những con thú tẻ nhạt. Bây giờ chỉ còn tôi trong những đêm se lạnh, ốm o, gầy guộc, với chứng suy nhược cơ thể và căn bệnh tim kéo dài bấy lâu. Tôi biết mình sẽ chết với giấc mơ chưa thành hình, nhưng vẫn ra ngồi bên chiếc xích đu để ru bài hát của ngày nào. Tay tôi vuốt ve lên con thú nhồi bông với sự dịu dàng của người mẹ. Nước mắt đã chảy xuống trong tiếng nấc nghẹn ngào. Tôi không biết nên trách người hay trách số phận, khi cuộc đời nhỏ nhoi muốn đánh đổi tất cả để một lần được làm mẹ... nhưng... mãi mãi cách xa... Còn lại tất cả là điệu ru ai oán được lưu truyền, nhưng đến tôi đã gián đoạn...

Ầu ơ... Gió đưa bụi chuối... ờ... ơ...sau hè... Anh theo vợ bé... ờ... ơ... Ầu ơ... Anh theo vợ bé bỏ bè con ơ... ớ... thơ... ơ... ơ...!

Dù sao đi nữa tôi vẫn muốn được làm mẹ. Cho dù... phải tái hiện ở kiếp sau... Như thế tôi cần phải tập hát ru. Hát cho thật hay để sau này đứa con ra đời sẽ nghe chính lời ru của mẹ nó. Trong tiếng kẽo kẹt của võng nôi, không thể thiếu lời hát ru. Con người có thể truyền nòi giống thì lời ru không thể mất đi cho những người như tôi được..."

Đọc đến đây tôi chợt nghe tiếng lục lạc khua khe khẽ dưới khung cửa sổ. Bước đến gần tôi nhìn thấy cái bóng lờ mờ trong làn sương trắng, đang đung đưa trên cái xích đu. Từ nơi ấy vang lên những lời ru quen thuộc, nhưng nó không còn làm cho tôi kinh sợ như buổi đầu nghe thấy nữa. Bây giờ tôi hiểu ai đã hát ru, khi đôi lần bà Tám hay than phiền về người con gái lớn bất hạnh của mình. Cô Hạnh mất cách đây đã mấy mươi năm. Lúc còn sống, người quanh đây đều khen đức hạnh và tình yêu trẻ của cô. Điều này giải thích vì sao chỉ có bé Tân là ngồi lên được cái xích đu... Trong khi tôi lại bị trẹo chân...

Nhìn trang nhật ký khiến tôi chạnh lòng. Con người có thể đánh mất nhiều thứ từ những toan tính mưu sinh, nhưng cái không thể đánh mất là thiên bẩm. Không riêng về việc duy trì nòi giống và phong tục tập quán, những đức tính sẵn có khác như: nhân hậu, trung tín, thủy chung v.v... nếu mất đi thì buồn thật... Và nếu như không ai than phiền về điều đó thì điệu ru bên chiếc xích đu thật đáng sợ biết bao...

Riêng tôi lại thấy rằng, từ đây nếu lời ru có vô tình bay vào tai trong những đêm khó ngủ, thì thật hạnh phúc. Bởi ý đồ chính của người ru vẫn là tìm đến một giấc ngủ say, cho một tâm hồn thơ dại và hồn nhiên...

Bình Tân - 06.07.2011

MacDung